Ban Hoằng Pháp

Truyền thống và định hướng Hoằng pháp của Giáo Hội Phật Giáo TP.HCM
07/12/2017 08:50 (GMT+7)
Kích cỡ chữ: GiảmTăng
Ban Trị sự và Ban Hoằng pháp Thành phố từ nhiệm kỳ đầu tiên, cho đến nay Ban Hoằng pháp TP.HCM nhiệm kỳ 8 (2012-2017) cố gắng phát huy giá trị truyền thống và định hướng hoằng pháp bao hàm tất cả các lĩnh vực trong mọi sinh hoạt của đời sống con người, áp dụng và đem lại hiệu quả nhất định cho từng đối tượng khác nhau.

Hơn 2.600 năm, sau khi thành đạo dưới cội cây Bồ đề, “vì lợi ích cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và loài người", đức Phật liền rời cội Bồ đề đến độ năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển, hình thành ngôi Tam bảo. Ngài đã dạy 60 vị đệ tử A la hán đầu tiên rằng: "Này các thầy Tỳ kheo! Nay đến thời hóa độ các ngươi hãy ra đi một người một ngã, đem ánh sáng đạo mầu hoằng truyền chánh pháp vì lợi tha cho quần sanh nhân loại". Tâm nguyện thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sanh là hoài bão của người Tăng sĩ là một trách nhiệm thiêng liêng không thể thiếu được.

Điều này cho thấy, hoằng pháp là một trong những sứ mệnh quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của Phật giáo. Hơn 2.000 năm lịch sử, những cột mốc đưa đến giai đoạn vàng son của Phật giáo Việt Nam từ thời đại Lý Trần, đều có vai trò tích cực đóng góp của công tác hoằng pháp. Để có được một sự thành công như thế, hoằng pháp của đạo Phật bao giờ cũng đặt nền tảng trên lời dạy của đức Phật trong Tam tạng Thánh điển; nhưng vấn đề cốt lõi đóng vai trò chủ đạo trong việc thành bại của công tác hoằng pháp bao giờ cũng là yếu tố nhân sự, yếu tố của những con người đầy đủ phẩm chất cần thiết cho công tác hoằng pháp.

Nối tiếp truyền thừa sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của đức Thế Tôn, bậc tiền nhân đi trước theo phương châm “Hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi bản hoài”; cũng như kế tục những thành quả của chư Tôn đức Ban Trị sự và Ban Hoằng pháp Thành phố từ nhiệm kỳ đầu tiên, cho đến nay Ban Hoằng pháp TP.HCM nhiệm kỳ 8 (2012-2017) cố gắng phát huy giá trị truyền thống và định hướng hoằng pháp bao hàm tất cả các lĩnh vực trong mọi sinh hoạt của đời sống con người, áp dụng và đem lại hiệu quả nhất định cho từng đối tượng khác nhau.

I. TRUYỀN THỐNG HOẰNG PHÁP

Trải qua bao biến thiên của lịch sử, Phật giáo Việt Nam vẫn tồn tại và phát triển, bởi vì các bậc tiền nhân biết cách áp dụng một cách hợp lý những yếu tố thuộc truyền thống, đặc thù văn hóa và những gì thuộc hiện đại vào các công tác Phật sự, trong đó có công tác hoằng pháp.

Trước khi nhập diệt (Niết bàn), đức Phật căn dặn các hàng đệ tử rằng: “Pháp và Luật (Dhamma vinaya) Như Lai đã giảng giải và ban hành cho các con, sau khi Như Lai diệt độ, chính Pháp và Luật này sẽ là Ðạo Sư của các con.” [D. 16] Từ lời di huấn này, chúng ta thấy rõ rằng đường lối tu tập của đức Phật, hệ thống tôn giáo của Ngài, bao gồm Pháp và Luật. Luật hàm ý sự toàn hảo về phương diện đạo đức, chế ngự những hành động của thân và khẩu, phép tắc cư xử trong đạo Phật. Tất cả những điều này thường được gọi là Sìla (giới) hay học giới, pháp đề cập đến việc tu tập tâm, chế ngự tâm, đó là thiền hay sự phát triển định tâm (Samàdhi) và trí tuệ (Pannà). Giới, Ðịnh và Tuệ này là những lời dạy căn bản, ba môn học cốt lõi nếu được tu tập một cách thận trọng và trọn vẹn sẽ nâng con người từ thấp lên cao; đưa họ từ bóng tối ra ánh sáng, từ tham dục đến xả ly, và từ loạn động đến tĩnh lặng.

Mỗi cá nhân, dù tại gia hay xuất gia, phải tự mình có trách nhiệm đối với sự giải thoát của chính mình theo phương thuốc trị liệu hữu hiệu mà đức Phật đưa ra được tóm tắt như sau: “Người trú giới có trí, tu tập tâm và tuệ, nhiệt tâm và thận trọng, bậc giới hạnh thoát triền” [S.I. 13]. Tránh ác và làm thiện là nhiệm vụ của giới, quy tắc ứng xử được dạy trong đạo Phật. Giới bao gồm trong đó mọi phẩm chất tốt đẹp của tâm hồn là từ ái, khiêm tốn, khoan dung, lòng trắc ẩn, tâm quảng đại và hoan hỉ với sự thành công của kẻ khác v.v... Từ những nét đại cương về luân lý Phật giáo này, rõ ràng rằng, giới luật do đức Phật ban hành không phải là sự cấm đoán có tính tiêu cực, mà là một sự xác quyết phải hành thiện - một sự nghiệp được lát bằng những thiện ý vì an lạc và hạnh phúc của cả hành tinh này. Những nguyên tắc đạo đức được nhắm vào việc làm cho xã hội an ổn bằng cách thúc đẩy sự đoàn kết, hòa hợp và những quan hệ chánh đáng giữa con người với nhau. Giới là phương tiện mở đầu cho lối sống Phật giáo, là nền tảng cho sự phát triển tinh thần, người có ý định hành thiền hay định tâm trước tiên phải phát triển lòng yêu mến giới, vì chính giới nuôi dưỡng đời sống tâm linh và làm cho tâm vững vàng, an tịnh.

Giới, Ðịnh, Tuệ hỗ tương với nhau, vì một mục đích cuối cùng là bất động tâm giải thoát, và qua sự tu tập thận trọng bản tâm, qua việc chế ngự các hành động của thân và khẩu, sự thanh tịnh đã được đạt đến như thế nào. Chính nhờ sự tự nỗ lực và tự phát triển mà mỗi hành giả tự mình đạt đến giải thoát, Ðây đích thực là pháp (Dhamma) đã được đức Phật khám phá, đã được Ngài khéo tu tập và đạt đến chánh giác: “Giới, thiền định, trí tuệ, và giải thoát vô thượng Gotama danh xưng, chứng ngộ những pháp này, đức Phật thắng tri chúng, thuyết pháp cho Tỳ kheo, Ðạo sư đoạn tận khổ, bậc tuệ nhãn thanh tịnh” [A.II].

Tam học Giới, Ðịnh, Tuệ không phải là những phần biệt lập mà là những phần không thể thiếu của Ðạo lộ (giải thoát). Ðạo lộ thường được nói đến như là Bát Thánh đạo hay Bát Chánh đạo (Ariyo atthamgiko maggo). Tám chi phần của Đạo lộ là: Nhóm tuệ (Pannà): Chánh kiến (Sammà-ditthi), Chánh tư duy (Sammà-samkappa); nhóm Giới (Sìla): Chánh ngữ (Sammà-vàca), Chánh nghiệp (Sammà - kammanta), Chánh mạng (Sammà àjiva); nhóm Ðịnh (Samàdhi): Chánh tinh tấn (Sammà-vayama), Chánh niệm (Sammà-sati), Chánh định (Sammà-samàdhi). Tu tập Tam vô lậu học hay Bát Chánh đạo mới có thể diệt trừ phiền muộn, hận thù với ngờ vực, với tham vọng, với ích kỷ và với bạo hành.

Những lời dạy của đức Phật đã giải thích rõ nhiệm vụ và mục đích của tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ. Sự giải thoát có nghĩa là thấu thị cuộc sống khi đã tận diệt ba nhân của bất thiện tham, sân, si hay vô minh (Lobha, Dosa, Moha) thông qua việc tu tập Giới, Ðịnh, Tuệ. Như vậy, chúng ta thấy giáo pháp của đức Phật nhắm vào sự thanh tịnh tuyệt đối, kiện toàn tâm lực, giải thoát khỏi những tham muốn dục vọng. Sự giải thoát khỏi những cấu uế của tâm này, sự giải thoát khỏi khổ này là trách nhiệm của tự thân mỗi con người, không phải là trách nhiệm của ai khác, dù là người hay chư Thiên, ngay cả một vị tối tôn như đức Phật cũng không thể giải thoát cho ai khỏi những trói buộc của cuộc đời, ngoại trừ chỉ đường cho họ.

Thông qua môn học Giới - Ðịnh - Tuệ, chúng ta đã thấy rõ phương pháp đào tạo người hoằng pháp của đức Phật trong tác động hỗ tương giữa Pháp và Luật (Dhamma-vinaya) hay giữa minh và hạnh (Vijjà-carana), hai yếu tố tạo thành một tiến trình phát triển duy nhất, “Như lấy tay rửa tay, hay lấy chân để rửa chân. Cũng vậy, giới hạnh làm cho trí tuệ thanh tịnh và trí tuệ làm cho giới hạnh thanh tịnh [D. 4]. Tuy nhiên, pháp hành của đạo Phật là một tiến trình nghiêm ngặt nhằm tịnh hóa lời nói, hành động và tư duy của con người. Ðó là một tiến trình tự phát triển, tự thanh tịnh. Sự nhấn mạnh ở đây là vào những kết quả thực tiễn chứ không phải là sự suy luận mang tính triết lý, những ý niệm trừu tượng, hay thậm chí chỉ là sự suy diễn đơn thuần. Bằng ngôn ngữ mạnh mẽ đức Phật đã cảnh tỉnh hàng đệ tử tránh xa lối tu chỉ chú trọng đến tri thức sách vở như vầy: “Nếu người nói nhiều Kinh, không hành trì, phóng dật, như kẻ chăn bò người, không phần Sa môn hạnh. Dầu nói ít kinh điển, nhưng hành pháp, tùy pháp, từ bỏ tham, sân, si, tỉnh giác, tâm giải thoát, không chấp thủ hai đời, dự phần Sa môn hạnh [Dhp. 19-20]”.

Những lời cảnh tỉnh này đã nói lên được đường lối tu tập của đạo Phật, phương pháp nắm bắt chân lý cùng tột của đạo Phật, sự thức tỉnh từ vô minh đến trí tuệ, hoàn toàn không lệ thuộc vào sự phát triển tri thức có tính kinh viện, mà nơi pháp hành thực tiễn đưa hành giả đến sự giác ngộ và giải thoát cuối cùng.
Con người ngày nay đang làm việc không ngừng trên mọi phương diện nhằm cải thiện thế gian. Các nhà khoa học đang theo đuổi những công trình nghiên cứu và thí nghiệm của họ với sự quyết tâm và lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Những khám phá hiện đại và các phương tiện truyền thông liên lạc đã tạo những kết quả đáng kinh ngạc. Tất cả những sự cải thiện này, dù có những lợi ích của nó và đáng trân trọng, nhưng vẫn không giải quyết được vấn đề với tuổi già, sự chết, vô thường. Ðó là những tính chất cố hữu của cuộc sống, Những phép màu và sức mạnh của khoa học dù hoàn hảo đến đâu cũng không thể thay đổi được tính chất cố hữu này. Sự huy hoàng bất tử của tia nắng vĩnh hằng đang chờ, chỉ những ai có thể dùng ánh sáng của trí tuệ và giới hạnh để chiếu sáng và giữ gìn đạo lộ của họ vượt qua con đường hầm tăm tối, bất hạnh của cuộc đời.

Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh trong chánh pháp, hành trì đúng chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Thế Tôn từng dạy: “Này Ananda, những ai, sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác...Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu.” (Trường Bộ kinh I. 554).

ii. ĐỊNH HƯỚNG HOẰNG PHÁP

Căn cứ truyền thống hoằng pháp tốt đẹp của đức Phật năm xưa, luôn là động lực là sức mạnh từ trong tâm thức mỗi người hành giả xuất gia đạo tục dung thông đem đạo vào đời bằng phẩm hạnh của một thượng sĩ xuất trần, Ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh cũng dựa trên nền tảng đạo lộ của Giới - Định - Tuệ hay Bát Chánh đạo và đưa ra những tiêu chí như sau:

                             1.  Phong cách của Tăng sĩ

Không thể có hoằng pháp Phật giáo tồn tại đúng ý nghĩa khi các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni không hội đủ được những phẩm chất căn bản của một người xuất gia. Không thể có một lực lượng hoằng pháp hùng mạnh để đảm trách sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh báo Phật ân đức, nếu đội ngũ hoằng pháp coi trọng kiến thức, bỏ qua phần tự thân tu tập, quá nặng nề về hình thức, xem nhẹ phần thực chất. Bởi lẽ, phẩm chất của các hoằng pháp viên trong lãnh vực hoằng pháp đóng một vai trò vô cùng quan trọng, vì ảnh hưởng của Phật giáo tích cực hay tiêu cực, mạnh mẽ hay yếu ớt, rộng lớn hay hạn chế luôn phụ thuộc vào đạo đức, trình độ kiến thức, đặc biệt là sức mạnh nội tâm của hàng ngũ này. 

Trong bối cảnh xã hội ngày nay, với sự tiện lợi của ngành công nghệ thông tin, người ta có thể tìm hiểu, nghiên cứu và học hỏi Phật pháp qua sách vở, hệ thống internet, website, v.v…một cách dễ dàng. Nói khác đi, xã hội ngày nay không cần quá nhiều những chuyên viên tôn giáo hay những người xem đời sống tu hành là một nghề sinh nhai, đi rao giảng những kiến thức thuần túy mà họ học hỏi, góp nhặt, thu thập, gom góp được từ trường lớp, báo đài, internet, v.v...; bởi vì, quần chúng ngày nay dường như mất niềm tin với những người hành nghề tôn giáo, thuyết giảng luân lý, đạo đức, vô ngã - vị tha nhưng bản thân người mang danh hoằng pháp lại dễ dàng thất vọng, buồn phiền khi tự ngã bị tổn thương, luôn luôn nổi sân khi địa vị, quyền lợi không được thỏa mãn… Có lẽ, con người đương thời đang cần đến một đội ngũ hoằng pháp Phật giáo chân chính, những người có thể chia sẻ kinh nghiệm hành trì, có khả năng giúp họ thoát khỏi những rắc rối trong đời thường, có thể đem đến những phút giây an tịnh cho con người trong một xã hội đầy biến động và nhiều sức ép, có thể tạo ra niềm tin tốt đẹp và lạc quan.

Chính vì vậy, Ban Hoằng pháp Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng đội ngũ hoằng pháp trang nghiêm tứ oai nghi và thanh tịnh thân - khẩu - ý. Có thể nói rằng đây là phẩm chất quan trọng nhất, là hành trang đòi hỏi cần và đủ đối với một tu sĩ Phật giáo nói chung, và người hoằng pháp nói riêng. Tất nhiên, nội lực này không phải do nghiên cứu thuần túy hay học tập mà có được; nhưng nó là thành quả của một quá trình tu tập và ứng dụng giáo lý của đức Phật vào trong đời sống hàng ngày. Nó chính là chất liệu từ bi-trí tuệ của đạo Phật được tẩm ướt và thẩm thấu vào thân tâm, tạo nên tư cách của một tu sĩ Phật giáo kiểu mẫu về đạo đức và trí tuệ của đạo Phật như kinh Pháp cú dạy: “Hương thơm các loại hoa, không ngược bay chiều gió, nhưng hương người đức hạnh, ngược gió khắp tung bay, chỉ có bậc chân nhân, tỏa khắp mọi phương trời”.

                             2.  Nỗ lực tu tập chuyễn hóa nội tâm

Bậc Cổ đức có dạy: “Muốn dạy người, trước phải tự dạy mình; muốn hướng dẫn người, trước mình phải tự làm được”. Điều này quả là chí lý, đặc biệt đối với hành giả tu theo giáo lý giác ngộ - giải thoát của Phật Đà. Một vị hoằng pháp không thể chỉ thuyết thao thao bất tuyệt trên pháp tòa mà cuộc sống tu tập thì không hề áp dụng như lời nói hoằng pháp càng không thể chỉ học nói cho hay, cho lôi cuốn, cho có vẻ uyên bác còn chính mình chẳng chịu thực tập hoặc chẳng thể thực hiện được.
 
Điều nguy hại hơn nữa, nếu cuộc sống phạm hạnh của nhà hoằng pháp có khiếm khuyết thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực vô cùng đến tín tâm của Phật tử và uy tín của Tăng đoàn. Một sự phản cảm trong ấn tượng ban đầu của một Phật tử mới đối với một vị giảng sư là rất sâu nặng, khó phai mờ. Đặc biệt, có nhiều bậc giảng sư nổi tiếng, có uy tín và sức lôi cuốn lớn đối với thính chúng, được nhiều Phật tử sùng mộ, ái kính mà trở nên chủ quan, dễ duôi thậm chí buông lung giới luật căn bản thì hậu quả thật khó suy lường. Một sự “Sụp đổ thần tượng” sẽ kéo theo sự thất vọng, thoái tâm, thậm chí bất mãn của các Phật tử, tín đồ. 

Nhiệm kỳ 8 (2012 - 2017), Ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù chưa đẩy mạnh về các hoạt động hoằng pháp nhưng thường áp dụng lời dạy từ cố Hòa thượng Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN: “Đại Bồ tát hộ trì mười nghiệp đạo lành như vậy không hề gián đoạn. Lại tự nghĩ rằng: Tất cả chúng sanh sa đọa nơi ác đạo đều do mười nghiệp ác. Vì thế nên tôi phải tự tu chánh hạnh, cũng khuyên người khác tự tu chánh hạnh. Vì mình không tự tu thời không thể bảo kẻ khác tu.” (Thích Trí Tịnh (Tr.) (1994), Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh, tập II, Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh ấn hành, trang 435). Điều này tương ứng lời Phật dạy trong kinh Pháp Cú: “Như đá tảng kiên cố, không gió nào lay động, Cũng vậy, giữa khen chê, người trí không dao động. (Pháp Cú, kệ số 81).

Chính vì vậy các bậc trưởng lão thượng túc thường cảnh tỉnh các thế hệ hoằng pháp về điều này, như Việt Nam có: cố Hòa thượng Thích Khánh Anh, cố Hòa thượng Thích Khánh Hòa, cố Hòa thượng Thích Thiền Tâm, cố Hòa thượng Thích Đức Nhuận, …Và đặc biệt hiện nay có Hòa thượng Thích Trí Quảng, nguyên Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn tha thiết khuyến phát, sách tấn hàng hậu học về tâm nguyện hoằng pháp. Những lời dạy bảo của Hòa thượng từ băng đĩa, sách vở và những bài giảng dạy giúp Tăng sĩ chúng con đã vượt qua được nhiều cạm bẫy và thử thách trong quá trình tu học.

Đối với một hoằng pháp viên trước thế cuộc đang thác loạn trong đời sống hưởng thụ vật chất, hạnh “thiểu dục tri túc” và hạnh “viễn ly” là vô cùng thiết yếu. Không chỉ là Phật tử mà tất cả mọi người đều trở nên phản cảm tới một vị giảng sư xa hoa và kiểu cách. Tuy nhiên, “thiểu dục tri túc” không đồng nghĩa với khổ hạnh phi lý, “viễn ly” không đồng nghĩa với thoái tâm độ tận hàm linh. Thiểu dục - tri túc và viễn ly luôn được đặt trên nền tảng của Bát Chánh đạo, của Giới - Định - Tuệ. Đây là biểu hiện của cuộc sống tu hành theo Trung đạo, một phong thái tự tại, giải thoát của một nhà hoằng pháp có trí tuệ Bát nhã. 

Đây chính là nội dung của cái gọi là “sức mạnh nội tâm” của một nhà hoằng pháp Phật giáo. Sức mạnh này sẽ phát ra một năng lượng gọi là từ trường, có khả năng chuyển hóa nội tâm những người đang bị bối rối bởi chính dục vọng của mình, đang trải nghiệm khổ đau bởi lòng sân hận và chấp thủ của tự thân. Sức mạnh nội tâm này như một cơn mưa giữa mùa Hạ, nhanh chóng làm dịu đi cái nóng oi bức tạo nên sự bất an, khó chịu cho mọi loài. Một nhà hoằng pháp chân chính của Phật giáo luôn là cộng nghiệp tốt cho cộng đồng và xã hội; bởi vì cứ mỗi lần được tiếp xúc, thân cận, gần gũi với những con người chân chính này, cảm giác bình an, thư thái, thanh thản, nhẹ nhàng sẽ sinh ra trong tâm của người ta bởi vì hương vị giải thoát của tâm vô tham, vô sân, vô si của chính hành giả tỏa ngát khiến cho tâm hồn của người ta cảm thấy lắng dịu mọi ưu phiền, lo lắng.

                            3.  Nhiệm vụ hoằng pháp

Phật pháp trú thế, giai tại Tăng hoằng”. Thật vậy! Chánh pháp được lan rộng, chúng sanh thừa hưởng được vị đề hồ của Phật pháp chắc chắn phải nhờ đến sứ giả của Như Lai hoằng truyền. Đây chính là nghĩa vụ của người Tăng sĩ, kế tục sự nghiệp của Phật để tuyên dương chánh pháp. Vậy sự nghiệp hoằng pháp đã được khẳng định, nhiệm vụ hoằng pháp đã được xem là một sứ mệnh thiêng liêng cao cả của người Tăng sĩ, thì bất luận ở thời đại nào, người Tăng sĩ, nhà hoằng pháp cũng phải thích nghi và hòa cùng nhịp sống của nhân loại vào thời kỳ đó, có nghĩa là phải “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”.

     Điều đó có nghĩa rằng, vị hoằng pháp cần có một nếp sống mới, một sự suy nghĩ mới, một tầm nhìn mới để hội nhập vào đời. Cần am hiểu về cuộc sống hiện tại của tuổi trẻ, để theo kịp xu hướng thời đại. Tùy duyên bất biến theo nghĩa hòa nhập hồng trần mà không bị bụi hồng chi phối. Vượt lên trên tất cả, chư vị giảng sư Tp. Hồ Chí Minh không quản nắng mưa, thường xuyên đến với 41 lớp giáo lý, 25 giảng đường hàng tuần và các buổi giảng sóc vọng hàng tháng; cũng như hơn 100 đạo tràng lớn nhỏ trong thành phố nhằm đáp ứng nhu cầu học Phật cho Phật tử, giúp cho người nghe pháp phát khởi được lòng tin đối với Tam bảo, khiến cho họ cảm nhận được sự an lạc từ giáo pháp, từ thân giáo của vị giảng sư, cảm nhận và nhận thức được giá trị thực của con người và cuộc đời theo tinh thần Phật giáo.

   Ngày nay là thời đại bùng nổ thông tin do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và tin học. Theo đó, việc dạy và học của Phật giáo cũng trở nên thuận tiện rất nhiều. Tuy nhiên, Ban Hoằng pháp Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 8 (2012-2017) vẫn chưa phát huy hết khả năng vì có vài khó khăn chủ quan lẫn khách quan. Để nhiệm kỳ 9 hoàn thành sự giao phó của chư Tôn đức lãnh đạo Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM, nay Ban Hoằng pháp Phật giáo TP. HCM kính kiến nghị:

·        Cần được sự quan tâm sâu sát hơn nữa của Ban Trị sự Phật giáo TP. HCM với phong trào Hội thi diễn giảng dành cho Tăng Ni và Hội thi giáo lý dành cho Phật tử thành phố.
·        Cần có sự phối hợp đồng bộ Ban Hoằng pháp với Ban Trị sự các quận/huyện và các Ban ngành khác như Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Tăng sự Thành phố … để việc giảng dạy thuận lợi.
·        Ban Hoằng pháp TP.HCM cần gắn kết với Trưởng ban Hoằng pháp và Ban Trị sự các quận/huyện để thúc đẩy công tác hoằng pháp.

Tóm lại, ngày nay môi trường hoằng pháp càng rộng, đối tượng hoằng pháp càng đa dạng thì thử thách càng lớn. Ban Hoằng pháp TP.HCM nhiệm kỳ 9 (2017 - 2022) nỗ lực trau dồi hạnh đức và nguyện học theo hạnh Phật: “Ta sẽ thuyết pháp một cách tuần tự, ta sẽ thuyết pháp với sự thấy hiểu trọn vẹn pháp môn, ta sẽ thuyết pháp với lòng thương yêu, ta sẽ thuyết pháp không vì danh lợi, ta sẽ thuyết pháp không làm thương tổn cho mình và người (Tăng Chi II, trang 193)” để hoàn thành nhiệm vụ hoằng pháp mà chư Tôn đức Ban Trị sự Phật giáo TP. HCM tin tưởng giao phó. 

Ban Hoằng pháp GHPGVN TP.HCM

vistor counter
Label
vistor counter
  • ©2017 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam TP. Hồ Chí Minh
  • Chỉ đạo thực hiện: Hòa thượng Thích Trí Quảng
  • Email: phatgiaothanhpho@gmail.com
  • Ghi rõ nguồn phatgiaotphcm.vn khi sử dụng thông tin từ website này.